Mỗi thị trường khác nhau đều có đặc điểm và vai trò khác nhau đối với sự phát triển của nền kinh tế. Để hiểu rõ Thị trường mở là gì? Nghiệp vụ thị trường mở ở Việt Nam hiện nay ra sao? Hãy cùng Top Kinh Doanh tìm hiểu chi tiết dưới đây:

Nội dung chính:
Thị trường mở là gì?
Thị trường mở (tiếng Anh: Open market) là nơi ngân hàng trung ương thực hiện các hoạt động nghiệp vụ mua bán các loại giấy tờ có giá trị ngắn hạn để phục vụ việc thực thi các chính sách về tiền tệ quốc gia thông qua hành động thay đổi cơ số tiền tệ. Đặc biệt là khoản tiền dự trữ trong hệ thống ngân hàng, từ đó tác động đến khối lượng tiền cung ứng.
Các chủ thể tham gia thị trường mở là gì?
Đúng như tên gọi thì thị trường mở là thị trường có tính chất mở nên các thành viên tham gia thị trường vô cùng đa dạng với nhiều mục đích khác nhau. Hầu hết các nhà đầu tư tại thị trường có thể là đối tác giao dịch với ngân hàng trung ương về các giao dịch nghiệp vụ thị trường mở đảm bảo đáp ứng các tiêu chuẩn cụ thể của ngân hàng trung ương ở các quốc gia.
Các tiêu chuẩn giao dịch này cần đảm bảo mức độ tin cậy tối thiểu và hoạt động giao dịch với các bên đối tác cần đảm bảo tính hiệu quả dựa trên sự can thiệp từ hệ thống ngân hàng trung ương.

1. Ngân hàng Trung ương
Ngân hàng Trung ương được biết đến với vai trò như chủ thể tổ chức, xây dựng cũng như vận hành quá trình hoạt động của thị trường theo các mục tiêu của chính sách thị trường. Ngân hàng trung ương là chủ thể đưa ra quyết định lựa chọn sử dụng nghiệp vụ thị trường mở cũng như tần suất sử dụng nghiệp vụ thị trường mở.
Ngân hàng trung ương cũng là chủ thể can thiệp vào thị trường khi cần thiết bằng việc thực hiện chức năng như một đơn vị cho vay cuối để kiểm soát lượng tiền tệ, đảm bảo đáp ứng tốt nhất các phương tiện thanh toán cho các tổ chức tín dụng và nhu cầu tín dụng của toàn bộ nền kinh tế.
Qua đó có thể thấy Ngân hàng Trung ương tham gia vào thị trường mở không nhằm mục tiêu kinh doanh mà để quản lý, chi phối cũng như điều tiết thị trường kinh tế thực hiện theo các mục tiêu được đề ra trước đó.
2. Các đối tác của ngân hàng Trung ương
Ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại tham gia vào thị trường nhằm điều hòa mức vốn khả dụng và đảm bảo khả năng thanh toán. Đồng thời đầu tư các nguồn vốn đang trong trạng thái nhàn rỗi để thu lợi nhuận.
Các tổ chức tài chính phi ngân hàng
Các tổ chức tài chính phi ngân hàng cũng tham gia vào nghiệp vụ thị trường mở. Các tổ chức tài chính phi ngân hàng bao gồm:
- Công ty bảo hiểm.
- Quỹ đầu tư.
- Công ty tài chính.
- Hội tiết kiệm,….
Ở một vài quốc gia trên thế giới, các tổ chức tài chính phi ngân hàng cũng được quyền tham gia các nghiệp vụ thị trường mở. Các tổ chức tài chính này xem thị trường mở như một cơ hội tìm kiếm thu nhập bằng việc sử dụng nguồn vốn nhàn rỗi để đầu tư.
Các chủ thể giao dịch trung gian
Các chủ thể trung gian trong hoạt động mua bán giữa ngân hàng trung ương và các đối tác khác trong thị trường chính là các nhà giao dịch sơ cấp tham gia vào thị trường mở. Các nhà giao dịch sơ cấp này có thể là các công ty chứng khoán, tài chính hay các ngân hàng trung ương.
Đối với các thị trường mở chưa phát triển thì chưa cần đến sự tham gia của các chủ thể giao dịch trung gian. Các đối tượng tham gia trên thị trường phải đáp ứng các yêu cầu cơ bản của ngân hàng trung ương như: có tiền gửi nhàn rỗi tại ngân hàng trung ương, có thiết bị kết nối mạng để thực hiện giao dịch.
Các hình thức giao dịch tại thị trường mở

Tại mỗi phiên giao dịch, thị trường mở sẽ áp dụng một trong những hình thức dưới đây:
– Giao dịch mua có kỳ hạn: là hình thức mà Ngân hàng Nhà nước mua và nhận quyền sở hữu các loại giấy tờ có giá trị từ các tổ chức tín dụng. Ngoài ra các tổ chức tín dụng này cũng sẽ đồng ý mua lại và nhận lại quyền sở hữu các loại giấy tờ có giá trị này sau một thời gian nhất định.
– Giao dịch bán có kỳ hạn: là loại giao dịch mà Ngân hàng Nhà nước bán và chuyển giao quyền sở hữu các loại giấy tờ có giá trị cho các tổ chức tín dụng. Ngoài ra, cam kết sẽ mua lại cũng nhận nhận lại quyền sở hữu các loại giấy tờ có giá trị này sau một khoảng thời gian nhất định.
– Giao dịch mua hẳn: là loại giao dịch mà Ngân hàng Nhà nước quyết định mua và nhận quyền sở hữu loại giấy tờ mang giá trị từ các tổ chức tín dụng mà không đi kèm với các cam kết bán lại.
– Giao dịch bán hẳn: là loại giao dịch mà Ngân hàng Nhà nước bán và thực hiện chuyển giao quyền sở hữu các loại giấy tờ có giá trị cho các tổ chức tín dụng mà không kèm theo cam kết thu mua lại các loại giấy tờ có giá trị này.
Nghiệp vụ thị trường mở ở Việt Nam hiện nay

Từ tháng 11/2007 đến nay là giai đoạn giao dịch trực tuyến nghiệp vụ TTM giữa Sở Giao dịch với thành viên thị trường. Đứng trước yêu cầu đổi mới mạnh mẽ của hoạt động ngân hàng và sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin.
Từ năm 2003, Sở Giao dịch đã được Thống đốc NHNN giao Chủ đầu tư Dự án “Trang thiết bị máy móc, nối mạng và thiết kế phần mềm nghiệp vụ thị trường tiền tệ và lưu ký GTCG tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước – Giai đoạn I” do Quỹ Hỗ trợ Pháp và Ngân hàng Phát triển Châu Á tài trợ (gọi tắt là Dự án AFD).
Đây là dự án sử dụng công nghệ Web, cho phép các giao dịch thị trường tiền tệ nói chung và các giao dịch nghiệp vụ TTM được kết nối trực tiếp giữa NHNN và các thành viên, nhanh chóng và hiệu quả
Sau 3 năm triển khai dự án AFD, cùng với sự phối hợp của các Vụ, Cục của NHNN và nhà thầu FPT, tháng 11/2007, chương trình chính thức đưa vào sử dụng. Đến nay, chương trình đã đáp ứng được quy mô giao dịch ngày càng tăng cả về số lượng thành viên cũng như khối lượng GTCG tham gia giao dịch của mỗi phiên.
Với sự hỗ trợ của công nghệ, của hệ thống văn bản đồng bộ, NHNN có thể đưa vào sử dụng nhiều hình thức giao dịch mua/bán GTCG trong một ngày và cũng đã tổ chức thành công từ 2-3 phiên giao dịch trong ngày. Đồng thời với việc tổ chức thường xuyên các phiên giao dịch nghiệp vụ TTM, Sở Giao dịch cũng tổ chức thành công các phiên đấu thầu TPKB nhằm tăng cường số lượng GTCG của các TCTD, bổ sung hàng hóa cho các giao dịch nghiệp vụ TTM.
– Về thành viên: Trong hơn 4 năm, tổng số lượt thành viên tham gia các phiên nghiệp vụ TTM đạt 16.924 lượt và số thành viên tham gia tăng mạnh qua từng năm (năm 2008 là 3.208; năm 2009 là 3.121; năm 2010 là 6.106; 9 tháng đầu năm 2011 là 3.906). Trong các phiên giao dịch, bên cạnh các thành viên là NHTM Nhà nước thì số thành viên là các NHTM cổ phần và ngân hàng liên doanh, ngân hàng nước ngoài tăng mạnh. Từ năm 2010 đến nay, còn có sự tham gia của các thành viên thuộc khối ngân hàng liên doanh, ngân hàng nước ngoài. Khối lượng GTCG của các thành viên trong mỗi phiên giao dịch ngày càng đa dạng gồm trái phiếu Chính phủ, trái phiếu Chính quyền địa phương (TP. Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh), tín phiếu NHNN, trái phiếu của các ngân hàng chính sách (Ngân hàng Phát triển, Ngân hàng Chính sách xã hội)
– Về khối lượng giao dịch: là thời kỳ nền kinh tế trong nước chịu rất nhiều sự tác động tiêu cực bởi sự bất ổn tài chính của các nước trên thế giới và vấn đề nợ công của khu vực Châu Âu. Đặc biệt là thời điểm những tháng cuối năm 2008 đầu năm 2009, các ngân hàng gặp khó khăn về thanh khoản, khi đó, NHNN đã thực hiện cung một khối lượng tiền đáng kể để hỗ trợ các ngân hàng. Có thời điểm, lãi suất trên thị trường liên ngân hàng lên tới hơn 40%/năm, NHNN kịp thời can thiệp thông qua nghiệp vụ TTM bằng việc tăng lượng cung tiền và áp dụng phương pháp đấu thầu khối lượng, dường như ngay lập tức, lãi suất liên ngân hàng giảm quanh mức 20%/năm. Chính vì vậy, NHNN chủ yếu chào thầu đối với các phiên mua kỳ hạn GTCG để tiếp tục hỗ trợ thanh khoản cho các ngân hàng, khối lượng trúng thầu mua kỳ hạn GTCG là 6.455.551 tỷ đồng, chiếm tới 98,5%/tổng khối lượng trúng thầu trong giao dịch nghiệp vụ TTM; tần xuất giao dịch các phiên tăng đáng kể bình quân NHNN đã tổ chức gần 384 phiên/năm.
Nghiệp vụ thị trường mở ở Việt Nam hiện nay, sau hàng loạt giải pháp và biện pháp hỗ trợ từ Chính phủ và NHNN, tình hình thanh khoản của các ngân hàng đã có sự cải biến rõ rệt, thị trường tiền tệ không còn “nóng” như trước.
Kết lại thị trường mở là gì?
Thị trường mở là nơi ngân hàng trung ương thực hiện các hoạt động nghiệp vụ mua bán các loại giấy tờ có giá trị ngắn hạn để phục vụ việc thực thi các chính sách về tiền tệ quốc gia thông qua hành động thay đổi cơ số tiền tệ. Đặc biệt là khoản tiền dự trữ trong hệ thống ngân hàng, từ đó tác động đến khối lượng tiền cung ứng.



