Quy luật ngưỡng cảm giác là gì? Ví dụ về quy luật ngưỡng cảm giác

5647

Ngưỡng cảm giác là cường độ tối thiểu của các kích thích để tạo ra được cảm giác. Quy luật ngưỡng cảm giác còn được gọi là quy luật về tính nhạy cảm bởi vì chỉ với một cường độ kích thích nhỏ đã tạo nên cảm giác.

quy luật ngưỡng cảm giác là gì

Ví dụ về quy luật ngưỡng cảm giác: Có những người nhạy cảm với âm thanh (hay được gọi là tai thính) có thể nghe được các âm thanh rất nhỏ trong không khí, trong khi đó những người xung quanh lại không nghe thấy. Như vậy, độ nhạy cảm càng cao thì ngưỡng cảm giác càng thấp.

Phân loại quy luật ngưỡng cảm giác

Có hai ngưỡng cảm giác khác nhau là ngưỡng cảm giác phía trên và ngưỡng cảm giác phía dưới.

– Ngưỡng cảm giác phía trên là cường độ tối đa mà ở đó còn tạo nên được cảm giác.

– Ngưỡng cảm giác phía dưới là cường độ tối thiểu cần có để tạo ra được một cảm giác.

Ví dụ: Tai người bình thường có thể nghe được âm thanh ở tần số 16 – 20.000Hz. Vậy 16Hz là ngưỡng cảm giác phía dưới, 20.000Hz là ngưỡng cảm giác phía trên.

phân loại quy luật ngưỡng cảm giác

Khoảng cường độ kích thích nằm giữa ngưỡng trên và dưới được chính là vùng cảm giác được. Ngoài ngưỡng cảm giác trên và ngưỡng cảm giác dưới thì còn có ngưỡng sai biệt là mức độ khác biệt tối thiểu về tính chất hoặc cường độ của hai chất kích thích để chúng ta có thể phân biệt được sự khác nhau giữa hai chất.

Ví dụ: A và B đang nói chuyện với nhau, những người thân của họ có thể phân biệt đâu là giọng của A và đâu là của B.

Ngưỡng cảm giác có thể được rèn luyện hay thông qua tiếp xúc với hiện tượng đó nhiều lần và ngưỡng sai biệt là một hằng số cụ thể như sau:
– Cảm giác thị giác: 1/100.
– Cảm giác thính giác:1/10.
– Cảm giác sức ép trọng lượng, vị ngọt 1/30.

Mỗi cơ quan cảm giác khác nhau đều tồn tại ngưỡng riêng của mình, ở những cá thể khác nhau thì ngưỡng cảm giác cũng không giống nhau. Ngưỡng cảm giác này chịu ảnh hưởng tác động của các điều kiện kèm theo hoạt động giáo dục và rèn luyện.

Ngày nay, nhiều nhà khoa học còn đưa ra các thuyết phát hiện tín hiệu. Thuyết này nói rằng ngưỡng cảm giác không chỉ phụ thuộc vào cường độ của kích thích và khả năng đáp lại của các cơ quan cảm giác mà còn phụ thuộc vào một số tác nhân tâm lý và thực trạng ở hiện tại.

Những tác nhân tâm lí ở đây có thể kể đến như kỳ vọng, kinh nghiệm và động của của con người trong trường hợp cảm giác đơn cử này. Chẳng hạn khi bạn đang ở trạng thái sẵn sàng đón nhận thông tin thì tính nhạy cảm sẽ cao hơn hẳn so với lúc thông thường.

Quy luật thích ứng của cảm giác

Thích ứng là khả năng biến hóa độ nhạy cảm của cảm giác sao cho tương thích với sự thay đổi của cường độ kích thích. Khi cường độ kích thích tăng lên thì độ nhạy cảm giảm đi và khi độ kích thích giảm thì độ nhạy cảm lại tăng lên.

Cảm giác của con người có thể dễ dàng thích ứng với sự thay đổi của môi trường như cách thích ứng với bóng tối hay nhiệt độ của nước nóng. Ngoài ra, cảm giác của con người còn có khả năng thích ứng với những kích thích kéo dài nhưng không làm thay đổi cường độ hay tính chất bất kỳ nào đó. Trong tình huống này chúng ta sẽ ngừng nhận thấy những kích thích cho đến khi những kích thích này có sự thay đổi.

quy luật thích ứng của cảm giác

Sự thích ứng cảm giác giúp chúng ta dễ dàng thích nghi với những điều kiện thiên nhiên, môi trường xung quanh luôn tiến hóa không ngừng. Ngoài ra còn bảo vệ hệ thần kinh tránh bị quá tải bởi sự tác động của những kích thích cũ.

Đồng thời nó còn cho phép con người luôn thay đổi cảm giác thông qua những kích thích phong phú, nhiều mẫu mã hơn. Sự thích ứng của cảm giác tại mỗi loại cảm giác khác nhau sẽ có mức độ khác nhau. Nó hoàn toàn có thể phát triển nhờ rèn luyện và các hoạt động giải trí nghề nghiệp.

Quy luật tác động ảnh hưởng lẫn nhau của cảm giác

Cảm giác luôn ảnh tương và tác động qua lại lẫn nhau, làm thay đổi tính nhạy cảm của nhau. Sự ảnh hưởng tác động được diễn ra theo quy luật:

– Sự kích thích yếu lên một cơ quan này sẽ làm tăng mức độ nhạy cảm của một cơ quan khác trên cơ thể. Sự tác động gây ảnh hưởng này hoàn toàn có thể được diễn ra một cách đồng thời hoặc nối tiếp đuôi nhau trên các cảm giác cùng loại hay khác loại.

Ví dụ: Những người mù có khả năng nghe được âm thanh tốt hơn so với người bình thường. Hay trẻ tự kỷ gặp những vấn đề về giao tiếp xã hội nhưng lại giỏi trong việc tính toán logic.

quy luat tác động ảnh hưởng lẫn nhau của cảm giác

– Tương phản chính là hiện tượng kỳ lạ tác động ảnh hưởng qua lại giữa những cảm giác cùng loại. Nó là sự thay đổi chất lượng và cường độ của cảm giác dưới sự ảnh hưởng tác động của một kích thích cùng loại đã xảy ra trước đó hoặc xảy ra đồng thời. Có hai loại tương phản khác nhau chính là tương phản đồng thời và tương phản nối tiếp đuôi nhau.

Ví dụ: Khi bạn đặt tờ giấy màu trắng trên nền đen sẽ tạo cảm giác tờ giấy trắng hơn khi đặt trên nền xám. Đây là tương phản đồng thời.

– Tương phản nối tiếp đuôi nhau chính là tương phản khi hai kích thích tác động ảnh hưởng tiếp nối nhau trên cùng một cơ quan cảm giác. Còn tương phản đồng thời xảy ra khi hai loại kích thích tác động ảnh hưởng cùng lúc lên cơ quan cảm giác.

Ví dụ: Sau khi chịu một kích thích lạnh thì kích thích ấm sẽ tạo cảm giác ấm nóng hơn.

Ứng dụng quy luật ngưỡng cảm giác

Tính nhạy cảm tăng lên do sự ảnh hưởng tác động qua lại của những cảm giác, do sự luyện tập có hệ thống được gọi là sự tăng cảm. Trong quá trình dạy và học giáo viên cần lưu ý tận dụng tối đa sự tăng cảm bằng việc tuân thủ và xây dựng một môi trường nhiệt độ, ánh sáng, âm thanh, không khí,… trong lớp học sao cho phù hợp cũng như tác động một lúc đồng thời lên nhiều giác quan của học sinh.

Ăn thức ăn có vị chua để tăng cảm giác ngọt, ăn dưa hấu với muối có cảm giác ngọt hơn, nước cam cho thêm muối mặn sẽ ngọt hơn cam nguyên chất.

Tóm lại, Quy luật ngưỡng cảm giác là gì?

Ngưỡng cảm giác là cường độ tối thiểu của kích thích để có thể gây ra được cảm giác. Quy luật này còn gọi là quy luật về tính nhạy cảm bởi lẽ khi nói đến tính nhạy cảm cao thì chỉ cần cường độ kích thích nhỏ nhưng đã có thể có cảm giác.